Thúc đẩy phát triển kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn

Ảnh đại diện bài viết: quang cảnh hội thảo. (ảnh trong bài: pv)

Ngày 1/7, Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo khoa học Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật và việc thúc đẩy phát triển kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

TS Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý chủ trì Hội thảo. Tham dự Hội thảo có các chuyên gia, nhà khoa học, đại diện các Bộ, ngành có liên quan.

Kinh tế số đạt nhiều bước tiến quan trọng

Phát biểu khai mạc, TS Nguyễn Văn Cương cho biết, thời gian qua, Việt Nam đã có những bước đi ban đầu trong việc định hình nền tảng cho việc thúc đẩy phát triển kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế bạc.

Kinh tế số Việt Nam đã đạt nhiều bước tiến quan trọng trong những năm qua, đặt mục tiêu đóng góp 30% GDP vào năm 2030; cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng kinh tế xanh, sử dụng năng lượng tái tạo; người cao tuổi bước đầu tham gia vào quá trình lao động với tư cách chuyên gia… Tuy nhiên, khung pháp lý vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ, còn thiếu các quy định pháp luật để thúc đẩy kinh tế bạc…

Cùng với đó, trên thực tế, nền kinh tế số và kinh tế xanh, kinh tế bạc vẫn đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức mang tính thời đại (như hạ tầng số chưa đồng đều; thiếu nguồn nhân lực chất lượng; cơ chế chia sẻ và khai thác dữ liệu còn nhiều rào cản; yêu cầu ngày càng cao về an toàn, an ninh mạng…).

Vì vậy, việc nghiên cứu, trao đổi và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, kinh tế bạc có ý nghĩa hết sức quan trọng, không chỉ về mặt lý luận mà còn có giá trị thực tiễn trong quá trình hoạch định và hoàn thiện chính sách phát triển đất nước.

Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý Nguyễn Văn Cương phát biểu khai mạc.

Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý nhấn mạnh, Hội thảo này là một trong những Hội thảo để phục vụ Đề án “Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới”. Do đó, mục tiêu là từ Hội thảo này rút ra được một số từ khóa quan trọng, vượt lên được những nội dung đã nhắc tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước…, để đưa vào Đề án chiến lược, đưa vào Nghị quyết sắp tới của Bộ Chính trị, thậm chí là Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, sẽ được trình vào cuối năm nay.

Để đạt được mục tiêu này, TS Nguyễn Văn Cương mong muốn các chuyên gia, nhà khoa học, các đại biểu từ thực tiễn của mình có thể đề xuất, bổ sung một số từ khóa chính, để làm sao đóng góp, xây dựng và đưa vào Nghị quyết; nêu những trọng tâm, trọng điểm, tiếp cận những định hướng lớn sẽ trở thành từ khóa để đưa vào Đề án.

Những đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật

Tại Hội thảo, TS Đào Trọng Khôi, Giảng viên Khoa Luật sư, Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đã phát biểu tham luận Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền tài sản đối với dữ liệu trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển kinh tế dữ liệu. TS Đào Trọng Khôi cho rằng sau khi thống nhất được chính sách cụ thể, quy chế pháp luật tài sản với dữ liệu sẽ được thiết kế phù hợp để thể hiện chính sách đó, đặt ra khung khổ pháp luật tài sản quan trọng giúp cho thị trường dữ liệu vận hành có hiệu quả và ổn định. Theo đó, cần tiếp tục thực hiện các nghiên cứu liên ngành pháp luật – kinh tế – công nghệ để xác định cách tiếp cận chính xác, phù hợp, tối ưu với dữ liệu, để nền kinh tế Việt Nam có thể tận dụng được tối đa sức bật từ loại tài nguyên mới và đầy hứa hẹn này.

TS Hà Công Anh Bảo, Trường Đại học Ngoại thương đề xuất chính sách đột phá phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Theo TS Hà Công Anh Bảo, Việt Nam cần ưu tiên bốn hướng hành động. Cụ thể, cần ban hành Chiến lược hoặc Đề án quốc gia về kinh tế bạc gắn với sửa đổi Luật Người cao tuổi; xây dựng khung pháp lý về chăm sóc dài hạn như hạ tầng xã hội nền tảng của xã hội già hóa; phát triển thị trường sản phẩm, dịch vụ, tài chính và công nghệ bạc đi đôi với bảo vệ người tiêu dùng cao tuổi; thiết lập cơ sở dữ liệu, bộ chỉ tiêu thống kê và cơ chế điều phối liên ngành để bảo đảm chính sách kinh tế bạc có căn cứ, có lộ trình và có trách nhiệm giải trình.

Đại biểu phát biểu tại Hội thảo.

Theo TS Bảo, thách thức lớn nhất của Việt Nam không chỉ là chuẩn bị nguồn lực để chăm sóc một xã hội già hóa, mà là xây dựng năng lực thể chế để biến già hóa dân số thành động lực phát triển bao trùm. Kinh tế bạc chỉ thực sự có ý nghĩa khi tăng trưởng thị trường, đổi mới công nghệ và huy động nguồn lực xã hội được đặt trong giới hạn của quyền, phẩm giá, an toàn và khả năng tiếp cận công bằng của người cao tuổi.

TS Nguyễn Sỹ Linh, Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho rằng tại Việt Nam, chủ trương phát triển kinh tế xanh, chuyển đổi số và phát triển kinh tế dữ liệu đã được xác lập tương đối rõ trong các nghị quyết của Đảng, chiến lược quốc gia và hệ thống pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, các khung chính sách liên quan vẫn chủ yếu được xây dựng theo cách tiếp cận chuyên ngành, trong khi những vấn đề mới phát sinh tại giao điểm giữa chuyển đổi xanh và chuyển đổi số chưa được điều chỉnh đầy đủ. Các khoảng trống về hạ tầng số xanh, dữ liệu môi trường, số hóa hoạt động MRV, thị trường các-bon, công bố thông tin ESG hay cơ chế hỗ trợ đổi mới sáng tạo xanh cho thấy yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện thể chế theo hướng tích hợp, liên ngành và thích ứng với sự phát triển của công nghệ.

Trong bối cảnh đó, việc xây dựng khung chính sách và pháp luật thúc đẩy sự hội tụ giữa kinh tế xanh, kinh tế số và kinh tế dữ liệu không chỉ góp phần thực hiện các mục tiêu tăng trưởng xanh và phát thải ròng bằng “0”, mà còn tạo động lực nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thu hút đầu tư chất lượng cao và thúc đẩy phát triển bền vững trong dài hạn.

Trên cơ sở các phân tích về thực trạng, kinh nghiệm quốc tế và những khoảng trống thể chế hiện nay, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật theo hướng thúc đẩy sự gắn kết giữa chuyển đổi xanh và chuyển đổi số trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế. Trong đó, cần ưu tiên xây dựng cơ sở pháp lý cho quản trị dữ liệu môi trường, phát triển hạ tầng số xanh, số hóa các công cụ quản lý phát thải và thị trường các-bon, đồng thời tạo cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo đối với các mô hình kinh doanh dựa trên công nghệ số phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.

Bên cạnh đó, cần tăng cường đầu tư cho hạ tầng dữ liệu, nâng cao năng lực quản trị số của cơ quan nhà nước, thúc đẩy hợp tác công – tư và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ số, dữ liệu và phát triển bền vững. Đây sẽ là những điều kiện nền tảng để Việt Nam tận dụng hiệu quả các cơ hội từ quá trình chuyển đổi kép, hướng tới mục tiêu xây dựng nền kinh tế xanh, số và có khả năng cạnh tranh cao trong giai đoạn phát triển mới.

H.Mây (https://moj.gov.vn/portal/tin-tuc/chi-tiet/thuc-ay-phat-trien-kinh-te-so-kinh-te-du-lieu-kinh-te-xanh-thhf2d48f4.html)

Chia sẻ

(2)