Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

  • Tổ chức ban hành: Bộ Chính trị

https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-10-nq-tw-ngay-08-6-2026-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-trien-kinh-te-co-von-dau-tu-nuoc-ngoai.html

Các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm

Phó Thủ tướng Thường trực nêu rõ, Nghị quyết số 10-NQ/TW đã xác định rõ mục tiêu phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gồm cả mục tiêu tổng quát cũng như mục tiêu cụ thể đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Các mục tiêu của Nghị quyết không chỉ là những chỉ tiêu về thu hút đầu tư, mà hướng tới mục tiêu cao hơn là nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và năng lực tự chủ của nền kinh tế.

Theo đó, Nghị quyết đặt mục tiêu tổng quát là đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức cạnh tranh thu hút nguồn vốn nước ngoài trung và dài hạn chất lượng cao cho đầu tư phát triển. Quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tạo sự liên kết, lan toả với các khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu các chuỗi cung ứng toàn cầu; góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tăng cường năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia.

Đến năm 2030, Nghị quyết đặt mục tiêu tạo chuyển biến căn bản về chất lượng và hiệu quả phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có 04 định hướng lớn:

(i) Thu hút 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký, trong đó vốn thực hiện đạt 150-200 tỷ USD.

(ii) Nâng cao chất lượng dòng vốn với 75% vốn đăng ký mới đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm năng về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại.

(iii) Tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 40-50%. Có khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

(iv) Nâng hạng thị trường chứng khoán lên thị trường mới nổi trước năm 2030, tạo nền tảng thu hút mạnh mẽ hơn các dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế.

Mục tiêu đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển hiệu quả, bền vững, gắn kết chặt chẽ với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân; Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất, dịch vụ, đổi mới sáng tạo và điều hành khu vực của nhiều tập đoàn đa quốc gia, qua đó nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đóng góp khoảng 30% GDP.

Kính thưa các đồng chí và quý vị đại biểu,

Có thể khái quát mục tiêu của Nghị quyết bằng một thông điệp: “thành công trong giai đoạn mới không được đo chủ yếu bằng số lượng dự án hay quy mô vốn thu hút, mà bằng chất lượng các dòng vốn, năng lực công nghệ, mức độ đổi mới sáng tạo, liên kết với doanh nghiệp trong nước và những đóng góp thực chất đối với sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước”.

Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 10-NQ/TW xác định hệ thống nhiệm vụ, giải pháp toàn diện, có thể khái quát thành 07 nhóm đột phá:

Thứ nhất, đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển, coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế và là động lực quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Khắc phục tình trạng các địa phương cạnh tranh thu hút đầu tư chạy theo số lượng; kiên quyết không đánh đổi môi trường, tài nguyên, an sinh xã hội và an ninh kinh tế để đổi lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.

Thứ hai, đột phá về thể chế, tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và có sức cạnh tranh quốc tế; đổi mới chính sách ưu đãi theo hướng gắn với hiệu quả hoạt động và các kết quả thực hiện các cam kết của dự án. Hình thành cơ chế lựa chọn, hỗ trợ, quản lý nhà đầu tư chiến lược. Áp dụng quy trình thủ tục đầu tư đặc biệt và cơ chế ưu đãi cho các dự án công nghệ chiến lược có quy mô lớn, tác động liên vùng, có tiềm năng dẫn dắt chuỗi cung ứng; dự án công nghệ cao có cam kết chuyển giao công nghệ. Thí điểm mô hình thể chế vượt trội tại một số khu vực. Thực hiện quản trị đầu tư trên nền tảng số, dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo. Không áp dụng hồi tố theo hướng xử lý bất lợi cho doanh nghiệp, trừ trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật.

Ngay tại Phiên họp Chính phủ về xây dựng pháp luật tháng 6/2026 vừa qua, Chính phủ đã giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, đề xuất trình Chính phủ báo cáo Quốc hội về việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo trình tự, thủ tục rút gọn nhằm thể chế hóa kịp thời các giải pháp chính sách tại Nghị quyết số 10-NQ/TW.

Thứ ba, phát triển đồng bộ nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng, nhất là: Xây dựng chương trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với nhu cầu của các ngành, lĩnh vực ưu tiên. Có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích việc sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cấp và từng bước giao nhiệm vụ kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế, vận hành chuỗi cung ứng cho người Việt Nam. Thu hút nhân tài, trọng dụng chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân có trình độ cao đến làm việc tại Việt Nam. Ưu tiên các hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng, hạ tầng số và dữ liệu, tạo nền tảng thu hút các dự án công nghệ cao và nâng cao chất lượng các dòng vốn đầu tư.

Thứ tư, định hướng thu hút đầu tư thế hệ mới, đổi mới căn bản công tác xúc tiến đầu tư theo hướng chủ động, có trọng tâm, trọng điểm; ưu tiên xúc tiến, thu hút đầu tư một số lĩnh vực cốt lõi, các dự án, nhà đầu tư có công nghệ nền tảng, các dự án công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, trung tâm nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các ngành có giá trị gia tăng cao. Tiếp cận, vận động, đàm phán và đồng hành với nhà đầu tư chiến lược, dự án chiến lược. Đối với các địa phương còn khó khăn, thu hút đầu tư phải phù hợp với thực tế, nâng dần chất lượng, không hình thành mặt bằng ưu đãi thấp để cạnh tranh thu hút đầu tư.

Thứ năm, nâng cao hiệu quả lan tỏa của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp Việt Nam, phát triển công nghiệp hỗ trợ, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, qua đó nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Cho phép doanh nghiệp khấu hao nhanh đối với tài sản số và tài sản xanh.

Thứ sáu, phát triển đồng bộ đầu tư gián tiếp nước ngoài và thị trường tài chính, đẩy mạnh nâng hạng thị trường chứng khoán, phát triển thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do và các thiết chế tài chính hiện đại để nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực. Nâng cao khả năng tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài, hoàn thiện hạ tầng giao dịch, các công cụ phòng ngừa rủi ro và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư.

Thứ bảy, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan liên quan trong phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tăng cường điều phối ở tầm quốc gia, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương; đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý đầu tư, nâng cao năng lực dự báo, giám sát và bảo đảm môi trường đầu tư minh bạch, ổn định, an toàn. Tổ chức thực hiện Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đối với cả Trung ương và địa phương. Tăng cường giám sát việc thực hiện cam kết của nhà đầu tư; kịp thời xử lý vi phạm, thu hồi ưu đãi hoặc áp dụng biện pháp phù hợp đối với trường hợp không thực hiện đúng cam kết. Tôn vinh, khen thưởng kịp thời đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài có đóng góp thực chất, dài hạn, tích cực cho các mục tiêu phát triển của đất nước.

Theo Phó Thủ tướng, 07 nhóm nhiệm vụ trên tạo thành một chương trình hành động thống nhất, trong đó: đổi mới nhận thức là tiền đề; hoàn thiện thể chế là khâu đột phá; nhân lực và hạ tầng là nền tảng; thu hút đầu tư thế hệ mới là động lực; liên kết và đổi mới sáng tạo là mục tiêu; phát triển thị trường vốn là điều kiện huy động nguồn lực; quản trị quốc gia hiện đại là yếu tố bảo đảm cho tổ chức thực hiện thành công.

Phó Thủ tướng Thường trực nhấn mạnh, để các nhiệm vụ này sớm đi vào cuộc sống và tạo chuyển biến thực chất, điều quyết định là tổ chức thực hiện Nghị quyết với sự vào cuộc đồng bộ của toàn hệ thống chính trị. Nghị quyết số 10-NQ/TW đã xác định rõ quan điểm, mục tiêu và các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Tuy nhiên, thành công của Nghị quyết không chỉ phụ thuộc vào chất lượng của văn bản, mà quan trọng hơn là quyết tâm chính trị và hiệu quả tổ chức thực hiện.

Đối với Đảng ủy Quốc hội, cần khẩn trương thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Bộ Chính trị; rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường giám sát việc thực hiện theo quy định.

Đối với Đảng ủy Chính phủ, các đảng ủy trực thuộc Trung ương, các bộ, ngành, địa phương, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các cơ quan liên quan, cần khẩn trương cụ thể hóa Nghị quyết thành chương trình, kế hoạch hành động với lộ trình, nhiệm vụ và trách nhiệm rõ ràng; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát để bảo đảm Nghị quyết được triển khai đồng bộ, thống nhất và hiệu quả. Trong đó, tập trung hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, chủ động tháo gỡ các điểm nghẽn về hạ tầng, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; đồng thời tăng cường điều phối ở tầm quốc gia, thí điểm một số chính sách mới và bảo đảm thống nhất trong tổ chức thực hiện.

Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, tạo sự thống nhất về nhận thức và đồng thuận trong toàn xã hội.

Đối với các hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp, cần phát huy vai trò đồng hành cùng Nhà nước trong hoàn thiện chính sách, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy liên kết, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và thực hiện đầy đủ trách nhiệm xã hội, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết.

Có thể khẳng định, Nghị quyết số 10-NQ/TW đã mở ra một giai đoạn phát triển mới đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Thành công của Nghị quyết đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với tinh thần thống nhất nhận thức, thống nhất hành động và quyết tâm thực hiện.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với sự chỉ đạo quyết liệt của Quốc hội, Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, địa phương cùng sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong và ngoài nước, Nghị quyết số 10-NQ/TW sẽ nhanh chóng đi vào cuộc sống, góp phần tạo bước phát triển mới cho đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới“, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc nhấn mạnh.

Infographic] Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế  có vốn đầu tư nước ngoài - Báo Khánh Hòa điện tử

 

BẠN MUỐN GIỚI THIỆU
MỘT CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN KTTH?

CHIA SẺ CHÍNH SÁCH

(8)