Vừa qua Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị Thúc đẩy hợp tác nông nghiệp Việt Nam – châu Phi, đồng thời ra mắt Nhóm công tác Hợp tác Nam – Nam trong nông nghiệp. Trong khuôn khổ sự kiện đã diễn ra tọa đàm về đầu tư và phát triển, với sự tham gia của các chuyên gia nông nghiệp trong nước, quốc tế và khối tư nhân.

Toạ đàm thuộc khuôn khổ Hội nghị Thúc đẩy hợp tác nông nghiệp Việt Nam – châu Phi. Ảnh: Phương Linh.
Tiếp cận mang tính hệ thống
Phát biểu tại tọa đàm, ông Vinod Ahuja, Trưởng Đại diện FAO tại Việt Nam, cho rằng nhiều chương trình hợp tác nông nghiệp trước đây chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng do chủ yếu tập trung vào các giải pháp kỹ thuật riêng lẻ, trong khi các thách thức đặt ra lại mang tính hệ thống và đòi hỏi cách tiếp cận toàn diện hơn.
Theo ông, không ít dự án chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu của người nông dân, quy mô còn nhỏ và thiếu cơ chế duy trì sau khi kết thúc hỗ trợ. Vì vậy, hợp tác Nam – Nam không nên dừng ở việc cử chuyên gia hay chuyển giao công nghệ, mà cần được xây dựng như một quan hệ đối tác dài hạn, hướng tới nâng cao năng lực, phát triển thể chế và cùng học hỏi kinh nghiệm.
Đồng quan điểm, TS. François Roger, Giám đốc Khu vực Đông Nam Á lục địa của CIRAD, cho rằng hợp tác Nam – Nam cần được nhìn nhận vượt ra ngoài khuôn khổ chuyển giao kỹ thuật truyền thống.
“Các quốc gia đang phát triển hoàn toàn có thể cùng nhau tạo ra tri thức mới, đồng thiết kế giải pháp phù hợp với điều kiện sản xuất và bối cảnh xã hội của từng địa phương. Việt Nam và các quốc gia châu Phi đều sở hữu những lợi thế riêng có thể bổ trợ cho nhau, từ nông nghiệp vùng khô hạn, nông lâm kết hợp, bảo tồn đa dạng sinh học đến các mô hình phát triển cộng đồng. Giá trị cốt lõi của hợp tác Nam – Nam là kết nối các kinh nghiệm thực tiễn đó để cùng phát triển”, ông nhấn mạnh.

Phái đoàn Senegal đến thăm Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông lâm nghiệp Tây Bắc (NOMAFSI) năm 2025. Ảnh: Quỳnh Chi.
Đề xuất Angola xây dựng cơ chế hợp tác dài hạn
Từ góc độ doanh nghiệp trực tiếp đầu tư tại châu Phi, bà Thái Kiều Hương – Phó Chủ tịch Tập đoàn Xuân Thiện cho biết tại Angola, chuyển giao kỹ thuật chỉ là một phần trong quá trình phát triển nông nghiệp.
Một trong những thách thức lớn nhất là thay đổi tập quán sản xuất. Người dân Angola làm nông nghiệp vẫn còn mang tính tự cung tự cấp, quy mô nhỏ lẻ và chưa quen với các quy trình sản xuất hàng hóa hiện đại. Do đó, doanh nghiệp không thể áp dụng nguyên mẫu các mô hình sản xuất từ Việt Nam mà phải nghiên cứu, điều chỉnh và thích nghi với điều kiện thực tế của địa phương.
Xuân Thiện hiện triển khai mô hình đầu tư khép kín tại Angola, bao gồm phát triển vùng nguyên liệu, tổ chức thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Mô hình được xây dựng trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của Việt Nam, đồng thời điều chỉnh phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội và thị trường của Angola.
Tháng 11/2025, Tập đoàn khởi công Tổ hợp công nghiệp Agrostars tại tỉnh Cuanza Sul với tổng vốn đầu tư 672 triệu USD. Dự án bao gồm tổ hợp chế biến nông sản, nhà máy phân bón hữu cơ vi sinh công suất 400.000 tấn/năm cùng chương trình phát triển vùng nguyên liệu quy mô lớn. Theo định hướng dài hạn, dự án đặt mục tiêu phát triển vùng nguyên liệu sắn khoảng 500.000 ha và vùng rừng nguyên liệu trên 1 triệu ha theo nhiều giai đoạn.
Song song với đầu tư sản xuất, Xuân Thiện Group đang phối hợp với các đơn vị nghiên cứu hàng đầu của Việt Nam như Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và Trường Đại học Nông Lâm Tây Nguyên để triển khai các chương trình khảo nghiệm giống, chuyển giao kỹ thuật, đào tạo cán bộ khuyến nông và hỗ trợ phát triển nông hộ.

Tập đoàn Xuân Thiện đầu tư nghiên cứu phát triển giống cây bạch đàn tại huyện Cuchi, tỉnh Cubango, Angola. Ảnh: Tập đoàn Xuân Thiện.
Theo ông Trần Lâm Đồng, Phó Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, sau quá trình khảo sát tại Angola và nhiều quốc gia có điều kiện tương đồng như Brazil, Lào, Thái Lan và Malaysia, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn cách tiếp cận dựa trên việc kế thừa kết quả nghiên cứu quốc tế, kết hợp với thử nghiệm thực địa.
Đến nay, hơn 20 loài bạch đàn, 15 loài keo cùng nhiều giống cây lâm nghiệp nhiệt đới khác đã được khảo nghiệm. Kết quả bước đầu cho thấy một số giống cây sinh trưởng tốt, thích nghi cao với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng của Angola.
Bên cạnh các giải pháp kỹ thuật, các chuyên gia cũng cho rằng Angola cần tiếp tục hoàn thiện khung chính sách về truy xuất nguồn gốc, quản lý rừng bền vững và tín chỉ carbon nhằm tạo nền tảng cho thu hút đầu tư dài hạn.
Thực tiễn tại Angola cho thấy hợp tác Nam – Nam hiệu quả không chỉ là câu chuyện chuyển giao công nghệ, mà còn là quá trình cùng xây dựng năng lực, hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực và hình thành các chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững. Đây cũng chính là hướng đi được nhiều tổ chức quốc tế và các nhà hoạch định chính sách kỳ vọng sẽ mở ra giai đoạn hợp tác sâu rộng hơn giữa Việt Nam và các quốc gia châu Phi trong thời gian tới.










