Trục văn hóa nông thôn trong kỷ nguyên nông nghiệp xanh

Văn hóa nông thôn kết hợp công nghệ hiện đại là giải pháp cốt lõi để nông nghiệp Việt Nam giải bài toán môi trường, bứt phá bền vững trong kỷ nguyên vươn mình.

Nghịch lý từ thực tiễn sản xuất

Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, nông nghiệp chưa bao giờ đơn thuần là một ngành kinh tế; đó là nguồn cội, là máu thịt và là bản sắc của người Việt. Với những ai gắn bó lâu năm với ngành nông nghiệp, hẳn nhiều người đã từng tự vấn rằng: Tại sao chúng ta sở hữu những con số xuất khẩu hàng tỷ USD nhưng người làm nông vẫn chưa thực sự an tâm, và những cánh đồng vẫn phải gánh chịu tình trạng ô nhiễm!

Thứ trưởng Võ Văn Hưng thăm gian hàng và các sản vật OCOP tại Hội nghị đánh giá kết quả phát triển sản phẩm OCOP và du lịch nông thôn giai đoạn 2021-2025, định hướng giai đoạn 2026-2030, triển khai theo các Quyết định số 919/QĐ-TTg và 922/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ vào ngày 16/10/2025. Ảnh: Khương Trung.
Thứ trưởng Võ Văn Hưng thăm gian hàng và các sản vật OCOP tại Hội nghị đánh giá kết quả phát triển sản phẩm OCOP và du lịch nông thôn giai đoạn 2021-2025, định hướng giai đoạn 2026-2030, triển khai theo các Quyết định số 919/QĐ-TTg và 922/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ vào ngày 16/10/2025. Ảnh: Khương Trung.

 

Và câu trả lời không chỉ nằm ở kỹ thuật hay vốn đầu tư, mà nằm ở sự đứt gãy giữa phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa sinh thái. Nhìn lại những ngày đầu năm 2026, nông nghiệp Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế “trụ đỡ” của nền kinh tế. Giữa những cơn rung lắc của thị trường toàn cầu, ngành nông sản vẫn giữ vững đà tăng trưởng, đảm bảo an ninh lương thực cho 100 triệu dân và lập nên những kỷ lục xuất khẩu mới.

Đặc biệt, Đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của cả nước với hơn 2,6 triệu ha đất nông nghiệp, tiếp tục đóng góp trên 50% sản lượng lúa và 70% sản lượng thủy sản quốc gia. Tại đây, lúa gạo không chỉ là cây trồng chiến lược mà còn là biểu tượng văn hóa gắn bó mật thiết với đời sống dân cư.

Tuy nhiên, đằng sau hào quang rực rỡ ấy là một “cái giá” khá đắt về môi trường. Trong hàng thập kỷ, chúng ta theo đuổi mục tiêu sản lượng bằng mọi giá. Để ép năng suất, người nông dân bị cuốn vào vòng xoáy của phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. Sự lệ thuộc này dẫn đến tình trạng đất đai bị chai cứng, tích tụ độc tố và suy giảm đa dạng sinh học nghiêm trọng.

Bên cạnh đó, vấn đề chất thải nông nghiệp đang là một bài toán hóc búa. Mỗi năm, hàng triệu tấn rơm rạ, vỏ trấu bị đốt ngay trên đồng ruộng, vừa gây ô nhiễm không khí, vừa làm mất đi lượng hữu cơ quý giá lẽ ra phải được “trả lại” cho đất. Từ góc độ quản lý môi trường, cần nhận ra rằng: Sản xuất lúa nước truyền thống với chế độ ngập nước liên tục là nguồn phát thải khí methane rất lớn. Việt Nam đã cam kết tại COP26 về việc giảm phát thải methane toàn cầu; đây chính là áp lực, nhưng cũng là vận hội để tái cấu trúc ngành nông nghiệp theo hướng xanh và bền vững.

Hồi sinh văn hóa nông thôn trong sản xuất, cánh đồng sẽ mãi xanh

Dưới góc độ chiến lược, văn hóa nông thôn được ví như “mạch ngầm” tri thức giúp nông dân đối thoại với thiên nhiên suốt hàng nghìn năm. Đây chính là nền tảng để ngành nông nghiệp bứt phá. Thay vì lệ thuộc vào hóa chất, việc phục hồi nếp sống trân quý thiên nhiên giúp nông dân kiến tạo các mô hình sản xuất sạch, bắt kịp xu thế tín chỉ carbon.

Rừng dừa 7 mẫu ở Quảng Nam. Ảnh: Hải An.
Rừng dừa 7 mẫu ở Quảng Nam. Ảnh: Hải An.

Trước khi cuộc “cách mạng hóa học” tràn vào cánh đồng, cha ông ta đã canh tác theo nguyên lý kinh tế tuần hoàn, từ việc “nuôi đất” bằng phân xanh, phân chuồng ủ hoai đến cách giữ nước, luân canh để kiểm soát sâu bệnh tự nhiên. Văn hóa làm nông của người Việt coi “Đất là mẹ”, “Nước là máu”. Thái độ sống trân quý thiên nhiên này từng là rào cản vững chắc nhất ngăn chặn các hành vi hủy hoại môi trường.

Phục hồi văn hóa nông thôn không phải là quay lại với cái cày, con trâu một cách thô sơ. Đó là lấy tri thức sinh thái của tiền nhân làm nền tảng, kết hợp cùng công nghệ hiện đại để tạo ra một diện mạo mới, đó là “xanh hơn và trách nhiệm hơn”.

Thực tế đã xuất hiện những mô hình đầy hy vọng. Tại ĐBSCL, đề án “1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp” là một cuộc cách mạng về tư duy. Quy trình “1 phải 5 giảm” kết hợp kỹ thuật “tưới ngập khô xen kẽ” (AWD) đã giúp nông dân giảm 30-40% chi phí đầu vào, tăng lợi nhuận rõ rệt mà vẫn kéo giảm sâu lượng phát thải khí nhà kính. Tại các vùng cao, mô hình sản xuất hữu cơ gắn với chỉ dẫn địa lý đang hồi sinh những giống cây bản địa quý giá, tạo ra những chu trình tuần hoàn hoàn chỉnh.

Đặc biệt, sự xuất hiện của tín chỉ carbon đang trở thành động lực kinh tế mới. Khi bảo vệ môi trường có tiềm năng trở thành nguồn thu mới, người nông dân sẽ có thêm thu nhập từ chính hành vi văn minh của mình.

Để nông nghiệp và môi trường thực sự hòa hợp trong “kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc, chúng ta cần một chiến lược toàn diện với con người là chủ thể. Thứ nhất, chuyển dịch từ “Sản xuất nông nghiệp” sang “Kinh tế nông nghiệp”. Không nên chỉ nhìn vào sản lượng mà phải nhìn vào giá trị gia tăng. Một cân gạo sạch, không dấu chân carbon, mang trong mình câu chuyện văn hóa của vùng đất sẽ có giá trị cao gấp nhiều lần gạo đại trà. Chúng ta cần đào tạo thế hệ “nông dân tri thức”, những người biết dùng smartphone để truy xuất nguồn gốc nhưng cũng biết “nghe” hơi thở của đất để bón phân đúng lúc.

Thứ hai, chính sách phải thẩm thấu vào văn hóa và cộng đồng. Nhà nước cần khuyến khích các hội quán nông dân, hợp tác xã kiểu mới, nơi giá trị văn hóa làm nông được tôn vinh. Các cơ chế tài chính phải ưu tiên hỗ trợ nông nghiệp sinh thái và bảo vệ môi trường nông thôn. Thứ ba, lấy công nghệ làm công cụ thực thi khát vọng xanh. Bản đồ số về thổ nhưỡng, hệ thống cảnh báo sớm hạn mặn hay dịch bệnh sẽ giúp nông nghiệp thích ứng chủ động hơn với biến đổi khí hậu, tránh lãng phí và ô nhiễm.

Cuối cùng là xây dựng thương hiệu dựa trên bản sắc, bởi thế giới ngày nay không chỉ mua nông sản, họ mua “giá trị”. Nếu chúng ta chứng minh được lúa gạo Việt Nam được trồng bằng tình yêu đất đai và trách nhiệm với tương lai, chúng ta sẽ không bao giờ phải lo lắng về hai từ “giải cứu”.

Vùng trồng rau vụ đông xuất khẩu tại xã Tuệ Tĩnh, TP Hải Phòng. Ảnh: Tùng Đinh.
Vùng trồng rau vụ đông xuất khẩu tại xã Tuệ Tĩnh, TP Hải Phòng. Ảnh: Tùng Đinh.

Nông nghiệp và môi trường là hai mặt của một thực thể, khi văn hóa làm nông được đặt đúng vị trí, bảo vệ môi trường sẽ trở thành nhu cầu tự thân của mỗi gia đình, mỗi làng xóm. Đây không chỉ là bài toán kỹ thuật, mà là một cuộc vận động văn hóa sâu rộng. Hãy để mỗi cánh đồng không chỉ là nơi sản xuất lương thực, mà là một không gian văn hóa sinh thái rực rỡ, để Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên mới với tâm thế của một cường quốc nông nghiệp xanh, thịnh vượng và giàu bản sắc.

Tương lai của nông nghiệp Việt Nam không nằm ở việc chúng ta đứng thứ mấy về sản lượng, mà ở việc chúng ta đứng đâu về uy tín trách nhiệm với hành tinh. Mỗi cánh đồng phải là một không gian văn hóa, mỗi dân phải là một đại sứ môi trường. Khi chúng ta bảo vệ môi trường chính là chúng ta đang bảo vệ tài sản lớn nhất của đời mình và tương lai của con cháu. Hãy cùng nhau khép lại kỷ nguyên khai thác kiệt quệ tài nguyên để mở ra kỷ nguyên bứt phá bền vững, nơi nông nghiệp Việt Nam rực sáng bằng giá trị bản sắc và tâm thế của một quốc gia trách nhiệm.

“Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lịch sử: chuyển từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế, từ ưu tiên sản lượng sang ưu tiên giá trị xanh. Chúng ta không thể mang một nền nông nghiệp suy kiệt về tài nguyên để bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Giải pháp không chỉ nằm ở những cỗ máy hay công nghệ số, mà nằm ở việc đánh thức “mạch ngầm” tri thức bản địa. Khi tri thức ngàn năm của cha ông được tiếp sức bởi công nghệ hiện đại, chúng ta sẽ tạo ra một hệ sinh thái nông nghiệp bền vững, nơi mỗi nông sản đều mang trong mình thông điệp về trách nhiệm và bản sắc”.

Võ Văn Hưng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, theo Báo Nông nghiệp Môi trường