Tận dụng phụ phẩm trong nông nghiệp, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn vùng nhiễm mặn ven biển

Biến đổi khí hậu cùng tình trạng xâm nhập mặn ngày càng gia tăng đang đặt ra nhiều thách thức cho sản xuất nông nghiệp tại các vùng ven biển nước ta. Từ Đồng bằng sông Cửu Long đến duyên hải miền Trung, nhiều diện tích đất nông nghiệp bị nhiễm mặn nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng, sinh kế của người dân và môi trường sinh thái. Do đó, việc tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất than sinh học, phân hữu cơ sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp hữu cơ đang mở ra hướng đi mới, góp phần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải và nâng cao giá trị sản xuất tại các vùng ngập mặn ven biển.

Lãng phí lớn từ phụ phẩm nông nghiệp

Mỗi năm, ngành nông nghiệp nước ta tạo ra hàng chục triệu tấn phụ phẩm như rơm rạ, vỏ trấu, thân lạc, lõi ngô, xơ dừa… Tuy nhiên, tại nhiều địa phương, phần lớn lượng phụ phẩm này vẫn chưa được tận dụng hiệu quả. Sau mỗi vụ thu hoạch, đặc biệt là trong trồng lúa, người dân thường có thói quen đốt rơm rạ. Việc này vừa lãng phí “tài nguyên” vừa gây ô nhiễm môi trường.

Trước đây, rơm rạ còn được người dân tận dụng làm chất đốt, thức ăn chăn nuôi hoặc phủ gốc cây trồng. Nhưng cùng với quá trình cơ giới hóa và thay đổi đời sống sinh hoạt, nhu cầu sử dụng phụ phẩm giảm dần. Việc đốt bỏ ngay trên đồng ruộng trở thành giải pháp “nhanh gọn” đối với nhiều hộ nông dân.

z7892635133652_f1fd6e6e2a3eb4d524d381ad5dfcdd16_1781579562.jpg
Xử lý rơm rạ trong sản xuất lúa, đặc biệt ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long là bài toán đặt ra nhiều thách thức

Tuy nhiên, cách xử lý này đang tác động xấu tới môi trường. TS. Bùi Thị Phương Loan, Trưởng Bộ môn Mô hình hóa và cơ sở dữ liệu (Viện Môi trường Nông nghiệp) cho biết, thời gian qua, đã có nhiều nghiên cứu cho thấy, quá trình đốt rơm rạ phát sinh nhiều khí thải như CO2, CO, NOx, SO2 cùng bụi mịn PM2.5, PM10 gây ô nhiễm môi trường không khí, ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng và làm gia tăng hiệu ứng nhà kính. Không chỉ vậy, việc đốt bỏ phụ phẩm còn khiến nguồn tài nguyên hữu cơ quý giá bị lãng phí. Bà Loan cho rằng, phụ phẩm nông nghiệp thực chất là nguồn nguyên liệu tái tạo rất có giá trị. Nếu được xử lý đúng cách, đây sẽ là nguồn vật liệu hữu cơ quan trọng giúp cải tạo đất, giảm sử dụng phân hóa học, nâng cao độ phì nhiêu và hướng tới nền nông nghiệp xanh, bền vững.

Thời gian gần đây, hiện tượng xâm nhập mặn đang diễn biến ngày càng phức tạp tại nhiều địa phương ven biển. Đặc biệt, Đồng bằng sông Cửu Long và duyên hải miền Trung là hai khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất.

Nhiều diện tích đất trồng lúa, rau màu và cây công nghiệp bị suy giảm năng suất nghiêm trọng do độ mặn trong đất tăng cao. Không ít địa phương phải thay đổi lịch thời vụ hoặc chuyển đổi cơ cấu cây trồng để thích ứng với điều kiện mới.

Tại một số tỉnh/thành như Vĩnh Long, thành phố Huế, Cần Thơ… đất canh tác lúa bị nhiễm mặn khiến năng suất giảm mạnh, có nơi thiệt hại tới gần 50%. Người dân phải tốn thêm chi phí rửa mặn, bơm nước ngọt hoặc gieo trồng lại khi cây bị chết do nồng độ muối quá cao.

Đối với cây rau màu và cây lạc, xâm nhập mặn cũng làm suy giảm chất lượng đất, ảnh hưởng khả năng hấp thụ dinh dưỡng của cây trồng. Nhiều hộ dân buộc phải sử dụng nguồn nước nhiễm mặn nhẹ để tưới do thiếu nước ngọt vào mùa khô, khiến tình trạng mặn hóa đất ngày càng nghiêm trọng hơn. Theo bà Loan, nếu không có giải pháp cải tạo đất hiệu quả và thích ứng kịp thời, sản xuất nông nghiệp tại vùng ven biển sẽ ngày càng khó khăn trước tác động của biến đổi khí hậu.

Hướng đi mới từ kinh tế tuần hoàn

Trong bối cảnh đó, việc tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất than sinh học và phân hữu cơ sinh học đang được xem là giải pháp nhiều tiềm năng.

Theo TS. Bùi Thị Phương Loan, than sinh học được tạo ra từ quá trình nhiệt phân phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, vỏ trấu, xơ dừa, vỏ lạc… trong điều kiện yếm khí. Sản phẩm này có khả năng cải tạo đất, tăng độ tơi xốp, giữ nước, giữ dinh dưỡng và hỗ trợ hệ vi sinh vật phát triển. Trong khi đó, phân hữu cơ sinh học được sản xuất thông qua quá trình ủ phụ phẩm nông nghiệp kết hợp chế phẩm vi sinh. Loại phân này giúp tăng hàm lượng hữu cơ cho đất, giảm phụ thuộc vào phân bón hóa học và nâng cao độ màu mỡ tự nhiên.

z7892633271468_28be85e9486fe93529d139756f7cbc38_1781579586.jpg
Tại các địa phương ven biển, nhiều mô hình phát triển kinh tế tuần hoàn đã được nhiều hộ dân triển khai và bước đầu đã đem lại kết quả rất tích cực

Đặc biệt, việc tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp không chỉ giúp giảm ô nhiễm môi trường mà còn hình thành chu trình sản xuất khép kín, đúng với tinh thần kinh tế tuần hoàn.

Thay vì đốt bỏ rơm rạ sau thu hoạch, người dân có thể thu gom để sản xuất phân hữu cơ hoặc than sinh học phục vụ ngay cho vụ sản xuất tiếp theo. Quá trình này vừa giúp giảm chi phí đầu vào, vừa tạo thêm giá trị gia tăng từ chính phụ phẩm vốn bị xem là “rác thải”.

Nhiều chuyên gia nhận định, đây là hướng đi phù hợp trong bối cảnh ngành nông nghiệp đang thúc đẩy phát triển xanh, giảm phát thải khí nhà kính và xây dựng nền sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ vùng ven biển

Thời gian qua, nhiều mô hình sử dụng phụ phẩm nông nghiệp để phát triển kinh tế tuần hoàn đã được triển khai tại các tỉnh ven biển và bước đầu mang lại hiệu quả tích cực.

Ở một số địa phương như thành phố Huế, tỉnh Vĩnh Long, Cà Mau… các mô hình sản xuất than sinh học và phân hữu cơ sinh học quy mô nhóm hộ đã được xây dựng gắn với canh tác lúa, rau màu và cây lạc trên đất nhiễm mặn. Cụ thể, mỗi mô hình có thể xử lý hàng chục tấn phụ phẩm nông nghiệp mỗi vụ, tạo ra lượng lớn phân hữu cơ sinh học và than sinh học phục vụ sản xuất.

Điều đáng chú ý là các mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ sử dụng than sinh học và phân hữu cơ sinh học đều cho hiệu quả kinh tế cao hơn phương thức canh tác truyền thống từ 15 – 20%. Không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất, các mô hình còn góp phần cải thiện đáng kể chất lượng đất. Đất canh tác trở nên tơi xốp hơn, tăng khả năng giữ nước, giảm độ chua và cải thiện hệ vi sinh vật đất.

Đặc biệt, việc giảm sử dụng phân hóa học và hạn chế đốt phụ phẩm ngoài đồng ruộng đã giúp giảm phát thải khí nhà kính, góp phần bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Nhiều nông dân tham gia mô hình cho biết, việc tận dụng phụ phẩm để sản xuất phân hữu cơ giúp họ chủ động nguồn phân bón, giảm đáng kể chi phí đầu vào trong bối cảnh giá vật tư nông nghiệp liên tục tăng cao.

z7892634254779_96fb15c4c8771029379008154de37e1b_1781579551.jpg
Sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở các địa phương ven biển giờ đây không phải là giải pháp, đó là hướng phát triển bền vững

Một trong những lợi ích lớn nhất của việc tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp là tạo nền tảng phát triển nông nghiệp hữu cơ tại các vùng đất nhiễm mặn ven biển. Hiện nay, nhu cầu tiêu dùng nông sản sạch, an toàn ngày càng gia tăng. Đây là cơ hội để các địa phương ven biển chuyển đổi sang mô hình sản xuất hữu cơ, nâng cao giá trị sản phẩm và tăng sức cạnh tranh trên thị trường.

Theo TS. Bùi Thị Phương Loan để phát triển nông nghiệp hữu cơ, việc cải tạo đất và giảm phụ thuộc vào phân hóa học là yêu cầu bắt buộc. Trong khi đó, than sinh học và phân hữu cơ sinh học từ phụ phẩm nông nghiệp lại đáp ứng rất tốt yêu cầu này.

Than sinh học giúp cải thiện đặc tính vật lý và hóa học của đất, đặc biệt phù hợp với đất nhiễm mặn và đất suy thoái. Còn phân hữu cơ sinh học cung cấp dinh dưỡng ổn định, tăng độ phì và phục hồi hệ sinh thái đất. Nhiều nghiên cứu cho thấy, khi kết hợp than sinh học với phân hữu cơ trong sản xuất lúa và rau màu, năng suất cây trồng được cải thiện rõ rệt, đồng thời chất lượng nông sản cũng tốt hơn. Đây được xem là giải pháp “kép”, vừa phục hồi đất, giảm ô nhiễm môi trường, vừa thúc đẩy nền nông nghiệp xanh và bền vững.

Tuy nhiên, theo TS. Bùi Thị Phương Loan, dù mang lại nhiều lợi ích, nhưng việc phát triển kinh tế tuần hoàn từ phụ phẩm nông nghiệp tại các vùng ven biển vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn. Đó là, hiện nay, phần lớn việc xử lý phụ phẩm vẫn mang tính nhỏ lẻ, thủ công, thiếu liên kết và chưa hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Nhiều nông dân chưa có điều kiện đầu tư máy móc, công nghệ hoặc thiếu kiến thức kỹ thuật để sản xuất than sinh học và phân hữu cơ.

z7892635381131_0f58597bc8419d1238a0951c7eef848a_1781579566.jpg
Vùng đất hoang hóa ven biển của thành phố Huế trước đây, nay được thay bằng cánh đồng trồng lạc theo hướng hữu cơ tận dụng phụ phẩm nông nghiệp

Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ các sản phẩm hữu cơ còn chưa ổn định, trong khi chi phí đầu tư ban đầu cho mô hình tuần hoàn vẫn khá cao đối với nhiều hộ dân.

Nhiều chuyên gia cho rằng, để thúc đẩy kinh tế tuần hoàn vùng ngập mặn ven biển, chúng ta cần có cơ chế chính sách đồng bộ từ Trung ương đến địa phương.

Trong đó, cần đẩy mạnh hỗ trợ chuyển giao khoa học công nghệ, hướng dẫn kỹ thuật xử lý phụ phẩm nông nghiệp cho người dân. Đồng thời, xây dựng các mô hình liên kết sản xuất theo hợp tác xã hoặc nhóm hộ nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và tiêu thụ sản phẩm. Các địa phương cũng cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư vào lĩnh vực tái chế phụ phẩm nông nghiệp, phát triển phân hữu cơ và than sinh học quy mô lớn.

Ngoài ra, cần lồng ghép phát triển kinh tế tuần hoàn với các chương trình giảm phát thải, xây dựng nông thôn mới và thích ứng biến đổi khí hậu sẽ tạo thêm động lực để nhân rộng mô hình. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, việc tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để phát triển kinh tế tuần hoàn không chỉ là giải pháp bảo vệ môi trường mà còn là hướng đi tất yếu cho nền nông nghiệp bền vững.

Từ những phụ phẩm từng bị đốt bỏ ngoài đồng ruộng, nay có thể trở thành nguồn tài nguyên quý phục vụ sản xuất nông nghiệp hữu cơ, cải tạo đất và nâng cao thu nhập cho người dân. Việc phát triển các mô hình tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp tại vùng ngập mặn ven biển đang mở ra hướng tiếp cận mới trong sản xuất nông nghiệp: giảm phát thải, tiết kiệm tài nguyên và tạo giá trị gia tăng theo chuỗi tuần hoàn. Đây không chỉ là giải pháp trước mắt để thích ứng với xâm nhập mặn, mà còn là bước đi quan trọng hướng tới nền nông nghiệp xanh, hiện đại và phát triển bền vững trong tương lai.

 

Lê Hải