TS. Nguyễn Thanh Huyền
Trường Đại học Thương mại
Email: thanhhuyen-tcnh@tmu.edu.vn
Tóm tắt
Việt Nam là một nước đang phát triển, phải đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng về sử dụng tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường. Thực hiện thành công mô hình kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp chính là nền tảng để hiện thực hoá mục tiêu phát triển bền vững. Bài viết phân tích thực trạng chính sách tài chính, tín dụng nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp ở Việt Nam; nhận diện những vấn đề đã và đang là rào cản gây khó khăn cho các chủ thể sản xuất nông nghiệp trong việc chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn, sản xuất giảm phát thải, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách tài chính, tín dụng khơi thông các nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển nông nghiệp xanh ở Việt Nam.
Từ khóa: Chính sách tài chính, tín dụng, phát triển kinh tế, kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp, Việt Nam
Summary
Viet Nam, as a developing country, is facing numerous serious challenges related to the exploitation of natural resources and environmental pollution. In this context, the successful implementation of the circular economy model in agriculture constitutes a fundamental foundation for achieving sustainable development goals. This paper reviews the current status of financial and credit policies aimed at supporting the development of the circular economy in Viet Nam’s agricultural sector. It identifies key barriers that have hindered agricultural producers from transitioning toward a circular economy model and low-emission production practices. Based on this analysis, the study proposes several policy recommendations to improve financial and credit mechanisms, thereby mobilizing and facilitating capital flows to meet the investment needs for green agricultural development in Viet Nam.
Keywords: Financial policy, credit policy, economic development, circular economy, agriculture, Viet Nam
ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ một nước nghèo và lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên thành một quốc gia đang phát triển với nhiều thành tựu ấn tượng cả về kinh tế cũng như xã hội. Tuy nhiên, với tốc độ khai thác nhanh hơn nhiều lần so với khả năng tái tạo của các tài nguyên, cùng với sự cạn kiệt của một số tài nguyên không có khả năng tái tạo, Việt Nam đang phải đối mặt với thách thức lớn liên quan đến phát triển kinh tế không bền vững. Thực trạng đáng báo động trên dẫn đến yêu cầu cấp bách cho Việt Nam phải tìm ra một hướng phát triển kinh tế mới, bền vững hơn nhằm giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên trong quá trình tăng trưởng kinh tế, đồng thời nâng cao chất lượng đời sống người dân và giảm suy thoái môi trường.
Phát triển sản xuất nông nghiệp (SXNN) giảm phát thải đã được Đảng và Nhà nước ta nhận định là một hướng phát triển kinh tế mới, phù hợp để giải quyết những thách thức và yêu cầu phát triển bền vững. Theo đó, các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tuần hoàn (KTTH) đã được ban hành, được lồng ghép trong các văn bản pháp luật và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2021-2030, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII, XIV. Tuy nhiên, để phát triển KTTH nói chung và KTTH trong nông nghiệp nói riêng, vấn đề cốt lõi là thực hiện các giải pháp chính sách tài chính, tín dụng đồng bộ.
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH, TÍN DỤNG THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KINH TẾ TUẦN HOÀN TRONG NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Chính sách tài chính nhằm phát triển KTTH trong nông nghiệp là một hệ thống các nguyên tắc có chủ ý hướng dẫn các quyết định liên quan đến việc hình thành, phân bổ các nguồn lực tài chính nhằm làm chuyển đổi mô hình SXNN hướng tới xây dựng nền nông nghiệp tuần hoàn, với mục tiêu chuyển các nguồn lực tài chính từ dạng tiềm năng ở trong và ngoài nước thành các quỹ tài chính sử dụng hỗ trợ cho ngành nông nghiệp hướng đến mục tiêu phát triển mô hình KTTH trong nông nghiệp trên địa bàn cả nước. Đây là công cụ quan trọng trong chiến lược quốc gia về phát triển KTTH nhằm khuyến khích các thực thể kinh tế nông nghiệp phát triển và sử dụng các nguồn năng lượng mới, sản xuất các sản phẩm xanh, giảm thiểu phát thải khí nhà kính, SXNN sinh thái… Chính sách tài chính thực hiện vai trò hỗ trợ của mình trong công cuộc chuyển đổi ngành nông nghiệp sang mô hình KTTH thông qua các hướng: (i) giảm phát thải KNK trong sản xuất, tiêu dùng các sản phẩm, hàng hóa nông nghiệp; và (ii) hỗ trợ cơ cấu lại ngành nông nghiệp, quy hoạch lại vùng SXNN theo hướng thúc đẩy ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp; phát triển giống cây trồng, vật nuôi mới cho năng suất cao; (iii) phát triển hệ thống thủy lợi, phòng chống lũ lụt để bảo vệ đất nông nghiệp; các giống mới, mô hình SXNN mang lại giá trị gia tăng, năng suất cao, có khả năng chống chịu tốt, thích ứng với điều kiện khí hậu như: mô hình vườn ao chuồng (VAC), mô hình sản xuất lương thực và năng lượng từ chăn nuôi (IFES), mô hình thích ứng chăn nuôi dựa vào sinh thái (EbA), thực hành chăn nuôi tốt, chăn nuôi công nghệ cao và khép kín…
Ở Việt Nam, xây dựng kinh tế xanh, KTTH, thân thiện với môi trường đã được đưa vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng khẳng định chủ trương “xây dựng nền kinh tế xanh, KTTH, thân thiện với môi trường”, “xây dựng lộ trình, cơ chế, chính sách, pháp luật để hình thành, vận hành mô hình KTTH”. Đặc biệt, ngày 7/6/2022, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định Phê duyệt Đề án “Phát triển KTTH ở Việt Nam” trong đó nêu rõ quan điểm, mục tiêu cũng như đưa ra các nhiệm vụ giải pháp cụ thể. Mô hình KTTH là phương thức quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) của ngành nông nghiệp. Theo đó, nguồn lực tài chính nhằm phát triển mô hình KTTH trong nông nghiệp về cơ bản dựa trên tinh thần Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030 (Quyết định số 882/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 22/7/2022) bao gồm: Nguồn lực từ NSNN (ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, chính sách ưu đãi về thuế); nguồn lực từ khu vực tư nhân (trái phiếu doanh nghiệp xanh; thu từ trao đổi hạn ngạch phát KNK và tín chỉ carbon…); nguồn lực từ hỗ trợ quốc tế (ODA, vốn hỗ trợ và vay ưu đãi cho tăng trưởng xanh) và nguồn cộng đồng xã hội khác (vốn huy động công – tư cho các dự án xanh, các quỹ trong nước nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh, giảm thiểu và thích ứng với BĐKH).
Chính sách chi NSNN nhằm phát triển KTTH trong nông nghiệp ở Việt Nam được thể hiện qua các khoản chi bảo vệ môi trường, ứng phó BĐKH trong sản xuất nông nghiệp (quy định tại Điều 151, 152 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP; Thông tư số 31/2023/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số mức chi sự nghiệp BVMT); Chi NSNN hỗ trợ khuyến nông (quy định tại Nghị định số 83/2018/NÐ-CP về khuyến nông; Nghị định số 98/2018/NĐ-CP về tham gia liên kết chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp).
Chính sách thuế, phí nhằm phát triển mô hình KTTH trong nông nghiệp ở Việt Nam được thiết kế theo hướng khuyến khích việc khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường (Luật Thuế bảo vệ môi trường – BVMT, Luật Thuế tài nguyên, Luật Thuế xuất nhập khẩu, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế Giá trị gia tăng, phí BVMT… liên tục được sửa đổi bổ sung phù hợp với điều kiện thực tiễn và Kế hoạch hành động của ngành Tài chính thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đến năm 2030).
Chính sách bảo hiểm nông nghiệp hướng tới giúp các nhà đầu tư, sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp giảm bớt thiệt hại về tài chính trong trường hợp gặp phải những rủi ro không mong muốn trong sản xuất kinh doanh (thiên tai, dịch bệnh, hoả hoạn, tai nạn…). Các quy định về hỗ trợ phí bảo hiểm trong nông nghiệp như: bảo hiểm cho các tàu khai thác hải sản xa bờ, tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ, bảo hiểm đối với cây trồng, vật nuôi… được thể hiện qua các Nghị định số 67/2014/NĐ-CP, Nghị định số 89/2015/NĐ-CP về chính sách phát triển thuỷ sản; Nghị định số 17/2018/NĐ-CP về chính sách hỗ trợ bảo hiểm nhằm phát triển thuỷ sản; Nghị định số 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp. Chính sách bảo hiểm nông nghiệp có hiệu quả cũng chính là nền tảng quan trọng, tác động kép để phát triển hoạt động tín dụng đối với mô hình KTTH trong nông nghiệp.
Bên cạnh đó, chính sách tín dụng nhà nước được ban hành nhằm hỗ trợ vốn cho các chủ thể SXNN theo mô hình KTTH, bao gồm: (i) Chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn thương mại đối với các khoản vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn bằng VND để mua máy, thiết bị nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp được quy định tại các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg) và hướng dẫn chi tiết tại Thông tư số 89/2014/TT-BTC. (ii) Chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp đối với các mô hình liên kết trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, các mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ cao trong SXNN được quy định tại Quyết định số 1050/QĐ-NHNN ngày 28/5/2014 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhằm triển khai Nghị quyết số 14/NQ-CP ngày 5/3/2014 của Chính phủ. (iii) Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn được quy định tại Nghị định số 55/2015/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 116/2018/NĐ-CP và mới nhất là Nghị định số 156/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ 1/7/2025. Các văn bản này quy định về đối tượng, hạn mức vay và các chính sách ưu đãi.
Các quỹ đầu tư nhằm tài trợ cho các dự án phát triển năng lượng tái tạo, chống biến đổi khí hậu, tái chế, tái tạo… hiện nay chủ yếu là các quỹ từ NSNN (Quỹ BVMT Việt Nam – VEPF và các Quỹ BVMT địa phương), các Quỹ hợp tác song phương giữa Việt Nam và chính phủ của các quốc gia phát triển, Quỹ đầu tư quốc tế có chi nhánh tại Việt Nam. Hiện nay chưa có các quỹ đầu tư xanh tư nhân mang tính thị trường.
Mặt khác, để thúc đẩy phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, tạo sự hấp dẫn về cơ chế, chính sách, thu hút nguồn lực xã hội, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất, thúc đẩy tái cơ cấu ngành nông nghiệp, Chính phủ đã yêu cầu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chỉ đạo các ngân hàng thương mại (NHTM) chủ lực là các NHTM nhà nước, thực hiện chương trình cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch với lãi suất phù hợp – thấp hơn lãi suất thị trường (Nghị định số 55/2015/NĐ-CP; Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 7/3/2017). NHNN đã ban hành Thông tư số 17/2022/TT-NHNN hướng dẫn quản lý rủi ro môi trường trong hoạt động cấp tín dụng, có hiệu lực thi hành từ 1/6/2023.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Trong giai đoạn 2021-2025 cho thấy, Việt Nam luôn là nước nhập siêu về phân bón và thuốc bảo vệ thực vật do sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu, với khối lượng nhập khẩu hàng năm trên 4 triệu tấn phân bón và hơn 100.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật. Đi kèm với đó là các vấn đề môi trường như: ô nhiễm đất, nguồn nước, và suy giảm đa dạng sinh học do lạm dụng hóa chất trong SXNN. Hậu quả là đất bạc màu, nguồn nước nhiễm độc, tồn dư hóa chất trong nông sản, và bao bì thuốc bảo vệ thực vật vứt bừa bãi gây nguy hại hệ sinh thái. Đây là một vấn đề rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, vốn là nghề truyền thống lâu đời của phần lớn người dân Việt Nam, cùng với BĐKH đang ảnh hưởng nghiêm trọng tới phát triển kinh tế của Việt Nam.
KTTH được xem là cách tiếp cận phù hợp cho phát triển nông nghiệp theo xu hướng phát thải ròng bằng 0, đạt hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường trong nông nghiệp. Mặc dù khung pháp lý và các quyết sách tài chính, tín dụng về KTTH trong nông nghiệp đã được thiết lập khá đồng bộ, thực tế vận hành và kết quả cho thấy vẫn còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục giải quyết, tháo gỡ.
Về chính sách chi NSNN: (i) Chi NSNN cho nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế (mới đáp ứng 55-60% nhu cầu), đầu tư còn dàn trải, chưa đáp ứng yêu cầu. (ii) Việc sử dụng NSNN cho BVMT, ứng phó với BĐKH trong SXNN còn thiếu sự điều phối, tổng hợp, thống nhất, thiếu vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về BVMT để bảo đảm NSNN được tập trung vào đúng đối tượng, đúng nội dung cần thiết… Theo đánh giá, nguồn vốn đầu tư phát triển cho BVMT mới chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu đầu tư. (iii) Các dự án đầu tư công hướng tới tăng trưởng xanh, các dự án bảo vệ môi trường, xử lý nước thải còn chưa hiệu quả.
Về chính sách thuế, phí: Luật BVMT quy định đánh thuế BVMT cho 8 loại hàng hóa hiện nay vẫn chưa bao quát hết các loại sản phẩm, hàng hóa có nguy cơ gây tác động tiêu cực đến môi trường. Vẫn có nhiều sản phẩm, hàng hóa mà việc sử dụng chúng có tác động tiêu cực đến môi trường nhưng chưa được bổ sung vào diện điều chỉnh của Luật Thuế BVMT như: khí thải công nghiệp, thuốc lá, chất thải phóng xạ… Một số mặt hàng hiện nay đang phải đối mặt sự chồng chéo giữa thuế và phí BVMT như xăng, dầu, than đá, nhựa…
Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành cho phép đưa chi phí xử lý môi trường vào chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng thực tế áp dụng thì các quy định thủ tục chặt chẽ, chi phí tuân thủ cao, chưa có sự khác biệt rõ rệt giữa doanh nghiệp áp dụng công nghệ xanh, tiết kiệm năng lượng so với doanh nghiệp chỉ xử lý môi trường ở mức tối thiểu. Do vậy, chưa thực sự tạo ra động lực để doanh nghiệp đầu tư cho xử lý môi trường hoặc thay đổi công nghệ để sản xuất sạch hơn.
Về chính sách tín dụng: Việc tiếp cận các kênh tài trợ vốn cho phát triển KTTH là rất khó khăn đối với các doanh nghiệp SXNN và các hộ SXKD. Nguyên nhân là do các quy định, định nghĩa cụ thể về các danh mục, ngành lĩnh vực xanh vẫn chưa được thống nhất để có thể áp dụng chung trên cả nước. Điều này dẫn tới khó khăn cho các NHTM trong việc lựa chọn, thẩm định, đánh giá và giám sát khi thực hiện cấp tín dụng xanh. Đồng thời, khung khổ pháp lý, hệ thống chỉ tiêu, công cụ lượng hóa tác động chính sách tín dụng đến môi trường SXNN theo hướng thích ứng BĐKH chưa hoàn chỉnh, cập nhật; các phương án kinh doanh cũng cần phải đáp ứng được các điều kiện khắt khe về BVMT, các thủ tục vay vốn phức tạp. Chính vì những yêu cầu này, khách hàng sẽ ít có nhu cầu sử dụng sản phẩm tín dụng xanh của ngân hàng nếu không có hỗ trợ lãi suất hay những cơ chế ưu đãi khác. Khả năng tiếp cận vốn ngân hàng của doanh nghiệp SXNN hạn chế, đặc biệt là các hộ SXKD.
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Trên cơ sở tổng kết thực trạng chính sách tài chính, tín dụng nhằm hỗ trợ phát triển KTTH trong nông nghiệp ở Việt Nam, nhận diện những vấn đề đã và đang là rào cản gây khó khăn cho các chủ thể SXNN trong việc chuyển đổi sang mô hình KTTH, sản xuất giảm phát thải, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách tài chính, tín dụng nhằm khơi thông các nguồn vốn cho phát triển nông nghiệp xanh ở Việt Nam.
Thứ nhất, để thúc đẩy phát triển KTTH trong nông nghiệp, cần đẩy mạnh hơn nữa chi NSNN cho nông nghiệp công nghệ cao, các dự án đầu tư công hướng tới tăng trưởng xanh, các dự án bảo vệ môi trường, xử lý nước thải, khí thải. Thúc đẩy việc sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường. Nâng cao vai trò điều phối và quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về BVMT để bảo đảm NSNN được tập trung vào đúng đối tượng, đúng nội dung cần thiết và đạt hiệu quả mong muốn. Cần tăng cường, đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho các quỹ BVMT. Chú trọng hoàn thiện các cơ chế, chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư BVMT; triển khai mạnh mẽ mô hình hợp tác công – tư (PPP); thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn vay ưu đãi, vốn hỗ trợ phát triển từ các tổ chức quốc tế và Chính phủ các nước cho BVMT.
Thứ hai, chính sách thuế cần rà soát và hoàn thiện theo hướng thiết kế thành 2 nhóm: (i) nhóm chính sách thuế khuyến khích việc khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường cần mở rộng diện đánh thuế đối với các loại sản phẩm, hàng hóa có nguy cơ gây tác động tiêu cực đến môi trường; giảm bớt sự chồng chéo giữa thuế và phí; (ii) nhóm chính sách thuế hỗ trợ sản xuất và cung ứng dịch vụ xanh, thân thiện với môi trường cần có những quy định ưu đãi hấp dẫn hơn khi doanh nghiệp đầu tư cho xử lý môi trường hoặc áp dụng công nghệ tiên tiến nhằm sản xuất thân thiện với môi trường.
Thứ ba, NHNN cần ban hành bộ tiêu chuẩn về tín dụng xanh, danh mục các ngành/ lĩnh vực xanh để áp dụng chung, thống nhất. Đây là cơ sở để các NHTM có thể dựa vào thẩm định, đánh giá và giám sát khi cấp các gói tín dụng xanh. Bên cạnh đó, NHNN cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện Sổ tay hướng dẫn đánh giá rủi ro môi trường xã hội trong hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng. Đồng thời, việc ưu tiên nguồn vốn cho ứng dụng công nghệ trong SXNN hướng tới không chỉ cho các đối tượng trực tiếp SXNN mà cần hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất, cung ứng các sản phẩm công nghệ phục vụ SXNN nhằm làm giảm giá thành công nghệ, qua đó giảm chi phí đầu tư cho ứng dụng công nghệ 4.0 trong nông nghiệp.
Thứ tư, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách thuế và chính sách tín dụng theo hướng “ưu đãi kép”: giảm chi phí đầu tư (thuế) song song với tăng tiếp cận vốn rẻ (tín dụng) cho các dự án xanh. Cụ thể, cần xây dựng danh mục phân loại xanh quốc gia, áp dụng miễn/giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu thiết bị công nghệ cao, kết hợp với các gói tín dụng lãi suất thấp, thời gian vay dài và hỗ trợ phát hành trái phiếu xanh. Việc kết hợp đồng bộ này sẽ giúp giảm rủi ro, thời gian hoàn vốn và tăng sức hấp dẫn cho các khoản đầu tư vào sản xuất xanh và BVMT.
KẾT LUẬN
Việt Nam là một nước đang phát triển, phải đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng về sử dụng tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường. Theo đó, thực hiện thành công mô hình KTTH trong nông nghiệp chính là nền tảng để hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững. Chính phủ cần ưu tiên định hướng chính sách phát triển, xây dựng lộ trình cụ thể để thực hiện và thu hút sự tham gia của toàn xã hội trong chuỗi sản xuất tiêu thụ nông sản; đầu tư cho nghiên cứu và hệ thống quản lý, sản xuất và các công nghệ tương thích để phát triển nền nông nghiệp tuần hoàn, từ đó lan tỏa sang các ngành kinh tế khác.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương (2013). Nghị quyết 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
2. Ban Chấp hành Trung ương (2021). Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2021-2030.
3. Bộ Tài chính (2023). Thông tư số 31/2023/TT-BTC ngày 25/5/2023 về quản lý kinh phí sự nghiệp bảo vệ môi trường.
4. Chính phủ (2018a). Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 5/7/2018 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
5. Chính phủ (2018b). Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 7/9/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
6. Chính phủ (2021). Nghị quyết số 06/NQ-CP ngày 21/1/2021 ban hành Chương trình hành động tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường theo kết luận số 56-KL/TW ngày 23/8/2019 của Bộ Chính trị.
7. Chính phủ (2022). Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/1/2022 quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường 2020.
8. Chính phủ (2025). Nghị định số 156/2025/NĐ-CP ngày 16/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP và Nghị định số 116/2018/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
9. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2014). Quyết định số 1050/QĐ-NHNN ngày 28/5/2014 về chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp theo Nghị quyết 14/NQ-CP.
10. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2022). Thông tư số 17/2022/TT-NHNN, ngày 23/12/2022 về quản lý rủi ro môi trường trong hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
11. Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường 2020 số 72/2020/QH14 ngày 17/11/2020.
12. Thủ tướng Chính phủ (2013). Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp.
13. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 882/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 về Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030.
14. Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên và Môi trường, UNDP Việt Nam (2020). Hội thảo tham vấn “Kết quả nghiên cứu về kinh tế tuần hoàn và một số đề xuất chính sách”.
(https://nghiencuu.tapchikinhtetaichinh.vn/chinh-sach-tai-chinh-tin-dung-ho-tro-phat-trien-kinh-te-tuan-hoan-trong-nong-nghiep-o-viet-nam-150515.html)










